Hội Tin học Thanh Hoá (TAIP) được thành lập theo Quyết định số 2633 TC/UBTH ngày 27/12/1994 của Chủ tịch UBND Tỉnh Thanh Hoá. TAIP là tổ chức xã hội nghề nghiệp phi chính phủ, là thành viên của Hội Tin học Việt Nam (VAIP ) và Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hoá (TUSTA).TAIP là tổ chức tự nguyện của những người làm công tác Tin học, công tác liên quan tới tin học, những người nghiên cứu giảng dạy phổ biến kiến thức tin học, ứng dụng tin học và những người quan tâm đóng góp hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển Tin học của Tỉnh. Đến nay đã tập hợp được hơn 400 hội viên sinh hoạt tại 6 chi hội gồm các đơn QLHCNN, các trường Đại học, Cao đẳng, các trung tâm, các trường học, các đơn vị sự nghiệp và các doanh nghiệp CNTT-TT trong tỉnh tham gia.
- Ban chấp hành Hội Tin học Thanh Hoá:
|
STT
|
Họ và tên
|
Chúc danh
|
Chức vụ-Nơi làm việc
|
|
1
|
Nguyễn Mạnh An
|
Chủ tịch
|
Phó GĐ Sở KH&CN
|
|
2
|
Trần Duy Bình
|
PCT-Tổng TK
|
Phó GĐ Sở TT&TT
|
|
3
|
Trần Minh Ngọc
|
PCT
|
CV QLKH-HTQT, Trường ĐHHĐ
|
|
4
|
Đỗ Thanh Bắc
|
Uỷ viên BCH
|
Phó GĐ TT CNTT-TT
|
|
5
|
Đỗ Mạnh Trinh
|
Uỷ viên BCH
|
CV CNTT- Sở Tài chính
|
|
6
|
Đào Hồng ánh
|
Uỷ viên BCH
|
GĐ Cty Công nghệ VMT
|
|
7
|
Nguyễn Ngọc Tuý
|
Uỷ viên BCH
|
Phó TK KTCN-Đại học Hồng Đức
|
|
8
|
Ngô Quang Tự
|
Uỷ viên BCH
|
Phó TP Báo Điện tử Thanh Hoá
|
|
9
|
Nguyễn Anh Tuấn
|
Uỷ viên BCH
|
TP CNTT, Sở TT&TT
|
|
10
|
Lê Minh Hoàng
|
Uỷ viên BCH
|
Phó CVP -Sở GD&ĐT
|
|
11
|
Lê Minh Hiền
|
Uỷ viên BCH
|
Phó TK KTCN-Đại học Hồng Đức
|
|
12
|
Lương Trọng Thành
|
Uỷ viên BCH
|
Phó bí thư tỉnh đoàn
|
|
13
|
Nguyễn Văn Tước
|
Uỷ viên BCH
|
Phó phòng Cơ yếu – CNTT tỉnh uỷ
|
|
14
|
Lê Minh Hạnh
|
Uỷ viên BCH
|
Công an tỉnh
|
- Văn phòng Hội
|
1
|
Mai Ngọc Hải
|
CVP Hội
|
TT CNTT-TT
|
|
2
|
Trần Thị Thư
|
Kế toán Hội
|
Cán bộ Văn phòng Hội
|
- Thông tin về Hội viên : Tổng số hội viên: 452 Tổng số các Chi hội : 6
|
Thuộc
|
Số lượng
|
Trên ĐH
|
ĐH
|
TC-CĐ - khác
|
|
Cơ quan QLNN
+ Các sở trực thuộc
+ Cơ quan quản lý cấp huyện, thị
+ Vp Tỉnh uỷ
|
85
|
25
|
51
|
9
|
|
Đào tạo – Nghiên cứu
+ Trung tâm tin học tỉnh
+ ĐH Hồng Đức, Sở giáo dục
+ Các trường Cao đẳng
+ Các trường PTTH
|
132
|
30
|
102
|
|
Doanh nghiệp
|
120
|
|
|
|
Khác
|
60
|
|
|
|
Tình hình hoạt động từ 2003 đến nay :
Hội tin học Thanh Hoá là một trong những Hội được thành lập sớm so với các hội trong cả nước, trong những năm qua được sự quan tâm của các cấp Uỷ đảng, chính quyền, các doanh nghiệp Công nghệ thông tin; Đặc biệt được sự thường xuyên chỉ đạo, quan tâm tạo mọi điều kiện của Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật Thanh Hoá, Sở Bưu chính, Viễn thông và Hội tin học Việt Nam, Hội tin học Thanh Hoá đã thực hiện ký kết các chương trình phối hợp với Sở Bưu chính, viễn thông và các sở, ban, ngành trong tỉnh đã tổ chức được nhiều hoạt động có ý nghĩa như: Hội thảo về giải pháp các phần mềm điều hành tác nghiệp trong các cơ quan đảng, Cơ quan quản lý hành chính Nhà nước; Hội thảo về giải pháp Chính phủ điện tử tại Thanh Hoá; Hội thảo đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong các trường học,.. Cùng Sở Bưu chính, viễn thông phối hợp với các đơn vị để tổ chức thi và trao các giải thưởng các cuộc thi tin học trẻ không chuyên, OLYMPIC,... .
Bên cạnh những hoạt động đó công tác đào tạo phổ biến kiến thức về công nghệ thông tin cho cán bộ và nhân dân trên địa bàn tỉnh là công việc Ban Chấp hành hội tin học Thanh Hoá rất quan tâm và xác định việc chuẩn bị nhân lực sử dụng Công nghệ thông tin yếu tố quyết định để đạt hiệu quả chất lượng trong việc ứng dụng Công nghệ thông tin phục vụ sự lãnh đạo của đảng và công tác quản lý điều hành của các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước cho đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nhà. Ban Chấp hành Hội tin học Thanh Hoá đã sớm lập chương trình kế hoạch cụ thể để phối hợp và tạo điều kiện giúp các cơ quan đơn vị trên địa bàn tỉnh triển khai các công tác đào tạo, phổ biến kiến thức tin học; đặc biệt được sự quan tâm của Văn phòng Tỉnh uỷ trong những năm qua Hội tin học đã đào tạo cho các cơ quan đảng từ Văn phòng Tỉnh uỷ, các ban Tỉnh uỷ đến 27 huyện, thị, thành uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ, các đoàn thể chính trị cấp tỉnh, cấp huyện và một số ngành (Kế hoạch đầu tư, Ngành y tế,..), một số doanh nghiệp lớn trong tỉnh được trên 1500 lượt học viên là các đối tượng cán bộ, chuyên viên, nhân viên với tổng số 52 lớp, học chương trình từ 100 tiết đến 150 tiết cho các đối tượng khác nhau, trong đó có 27 lớp Hội đã chủ động khắc phục mọi điều kiện khó khăn về trang thiết bị CNTT, hệ thống điện, địa điểm, phương tiện và nội dung chương học để đến tận từng huyện, thị..trong tỉnh. Nhưng khó khăn nhất là các lớp thuộc các huyện miền núi phía tây của tỉnh.
Những kết quả đào tạo của Hội cho các đề án, dự án của tỉnh được đánh giá chất lượng khá tốt.
Song song với các hoạt động của Hội trong việc đào tạo phổ biến kiến thức về Công nghệ thông tin cho cán bộ đang công tác trong các cơ quan đảng, đoàn thể chính trị, cơ quan hành chính Nhà nước của tỉnh nhà. Các Hội viên của Hội tại các doanh nghiệp về Công nghệ thông tin trong tỉnh cũng đã chủ động tích cực đào tạo phổ cập kiến thức cho hàng ngàn cán bộ và nhân dân trong tỉnh. Với tâm huyết và lòng hăng say, nhiệt tình của các hội viên trong công tác đào tạo, phổ biến kiến thức về Công nghệ thông tin đã góp phần ít nhiều cho thành công của nhiều đề án, dự án trong tỉnh, đặc biệt là Đề án 47 của Tỉnh uỷ Thanh Hoá.
Bên cạnh việc Hội tiếp tục duy trì và đẩy mạnh những công việc đã làm tốt, đồng thời Hội tin học Thanh Hoá tiếp tục thực hiện phối hợp tốt với các cơ quan, đơn vị, hiệp hội trong và ngoài tỉnh, đặc biệt Sở Bưu chính, viễn thông, Trung tâm tin học Thanh Hoá, Hội tin học Việt Nam, Hội tin học Thành phố HCM, Hội điện tử viễn thông tin học Hà Nội, Hải phòng, hiệp hội phần mềm VINASA,..để tổ chức các hoạt động có ý nghĩa như: Tạo cầu nối, động lực để đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn xã hội một cách thiết thực và hiệu quả; Tiếp tục tìm tòi nghiên cứu các mô hình ứng dụng công nghệ thông tin của các vùng, miền trong nước và quốc tế để tìm các giải pháp phù hợp để tư vấn cho các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp trong tỉnh. Đồng thời mở rộng sự hợp tác, liên doanh, liên kết để thúc đẩy việc nghiên cứu, sản xuất phần mềm và việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp phần mềm của tỉnh nhà.
- Các hoạt động chính 6 tháng cuối năm 2006 và định hướng 2006-2010:
Theo chỉ thị 58 /CT-TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị đã thể hiện quyết tâm của Đảng và nhà nước ta trong việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT-TT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước với mục đích l à “ứng dụng v à phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các nghành kinh tế,tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo anh ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa”.
Với định hướng chiến lược đó, trong thời gian qua cùng với cả nước, cơ sở hạ tầng Thanh Hoá có bước phát triển nhanh, mạnh, mạng lưới phát triển đồng bộ rộng khắp, các dịch vụ viễn thông và Internet được phổ cập rộng rãi tới tất cả các vùng miền và một số vùng sâu, vùng xa của tỉnh góp phần thúc đâỷ phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng, đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân.
Bước sang giai đoạn 2006-2010, tỉnh Thanh Hoá cùng cả nước tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa các quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế, cải cách hành chính và hội nhập quốc tế, để duy trì mức độ phát triển cao, nhanh chóng bền vững thoát khỏi lạc hậu và đói nghèo. Trong tình hình đó, Đảng và nhà nước ta tiếp tục khẳng định CNTT-TT vẫn là động lực quan trọng để nâng cao năng lực quốc gia, nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển KT – XH. Ứng dụng CNTT- TT là nhân tố quan trọng để nâng cao năng suất lao động, tạo ra sức phát triển đối với mọi lĩnh vực kinh tế xã hội. Trong năm 2005, chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển CNTT- TT Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020; Quy hoạch phát triển viễn thông – Internet Việt Nam giai đoạn 2006-2010. Quốc hội khoá XI đã ban hành Luật giao dịch điện tử và gần đây ngày 23/6/2006 đã thông qua Luật Công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy ứng dụng, quản lý CNTT-TT và phát triển công nghiệp CNTT, tạo tiền đề cho việc phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Đối với Tỉnh Thanh Hoá, nghị quyết Đại hội đảng bộ Tỉnh lần thứ XVI cũng đã đánh giá đúng vai trò của CNTT-TT và để ra nhiệm vụ trong nhứng năm tới là: “ Ứng dụng và phát triển CNTT trong hoạt động của các nghành, các cấp”. Để thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ mà nghị quyết đại hội đảng bộ Tỉnh đã đề ra trong giai đoạn 2006-2010, Hội tin học thanh hóa đã vạch ra kế hoạch, tập trung vào những vấn đề sau:
- Tăng cường công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân về vai trò, vị trí của CNTT-TT trong sự nghiệp CNH-HĐH, từ đó tập trung và phát huy mọi nguồn lực nhanh chóng đưa CNTT-TT tthành nghành kinh tế mũi nhọn, góp phần tích cực thúc đẩy phát triển KH_XH.Trong đó, chú trọng việc triển khai phổ biến các luật về Giao dịch điện tử, Luật công nghệ thông tin, triển khai chiến lược phát triển CNTT-TT Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020, tạo điều kiện cho CNTT-TT phát triển.
- Tổ chức thực hiện theo các quy họach Viễn thông –Internet Việt nam giai đoạn 2006-2010; xây dựng trình UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin Thanh Hóa giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2020; triển khai thực hiện các chương trình CNTT-TT trọng điểm trên địa bản tỉnh theo kế hoạch của Bộ BCVT.
- Căn cứ quy hoạch CNTT-TT Thanh Hóa giai đoạn 2006-2010 đã phê duyệt, Ban chỉ đạo CNTT của Tỉnh và các ngành các cấp đẩy nhanh ứng dụng CNTT-TT. Trong đó mũi nhọn của CNTT-TT và tin học hóa các hoạt động của cơ quan nhà nước, thúc đẩy cải cách hành chính và phát triển các dịch vụ công trực tuyến cho hệ thống hành chính nhà nước, thực hiện chương trình phát triển Chính phủ điện tử, thương mại điện tử. Chú trọng ứng dụng CNTT trong ngành Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Khoa học công nghệ, công nghiệp, Bưu chính, Viễn thông, thương mại, Y tế, Du lịch…Đối với ngành Giáo dục và Đào tạo cần đưa nhanh tin học vào giảng dạy ở các trường và công tác quản lý giáo dục, phát huye hiệu quả của hệ thống tin học trong nhà
- Tích cực triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 10/TU của Tỉnh ủy Thanh hóa về phát triển doanh nghiệp, đẩy mạnh ứng dụng CNTT-TT trong khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đưa CNTT- TT vào cụm công nghiệp, quảng bá thương hiệu, tham gia thương mại điện tử, giao dịch điện tử. Phối hợp với các bộ các nghành triển khai thực hiện đề án hỗ trợ các doanh nghiệp ứng dungj và phát triển CNTT phục vụ hội nhập phát triển ( Đề án 191 của CHính phủ)
- Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích ứng dụng CNTT-TT. Thực hiện tốt chính sách mở cửa hội nhập, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển hạ tầng mạng và cung cấp dịch vụ viên thông – Internet trên địa bàn tỉnh.
- ứng dụng và phát triển CNTT-Tt phải gắn chặt với phát triển KT-XH, bảo đảm QP-AN quốc gia. Đối với Thanh Hóa CNTT-TT cần thực hiện tốt nhiệm vụ theo chương trình hành động thực hiện đề án phát triển KT- XH, bảo đảm quốc phòng an ninh, trong đó có việc phát triển các điểm truy cập công cộng và truy cập Internet công cộng trên các khu vực khó khăn và đặc biệt khó khăn của tỉnh theo chương trình Viễn thông công ích của Chính phủ giai đoạn 2006-2010.
- Đẩy mạnh tuyên truyền và thanh tra, kiểm tra việc thực thi hệ thống pháp luật về CNTT-TT, sớm đưa ra luật giao dịch điện tử, Luật công nghệ thông tin vào hiện, thúc đẩy CNTT-TT phát triển. Các ngành có liên quan và UBND cấp huyện, cấp xã cần phối hợp tăng cường các biện pháp quản lý, thanh tra kiểm tra các hoạt động cung cấp dịch vụ viễc thông công nghệ thông tin nhất là dịch vụ Internet trên địa bàn.
Việc ứng dụng và phát triển CNTT-TT ở tỉnh Thanh Hóa với điểm xuất phát còn thấp do đó gặp rất nhiều khó khăn thách thức cả về yếu tố hệ thống pháp lý, do tấm lý thay đổi giữa cái cũ và cái mới, sự đồng bộ trong nhận thức và thực hiệ. Nhưng với quyết tâm thực hiện chiến lược của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm chỉ đạo của Lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh và sự nỗ lực của các ngành các cấp, các tổ chức cá nhân.. đối với lĩnh vực CNTT-TT, chúng ta tin tưởng rằng ngành CNTT Thanh Hóa sẽ vượt qua đượcnhững khó khăn thách thức để hoàn thành tốt những mục tiêu, nhiệm vụ trong giai đoạn tới.